Bên trong thế giới bí mật của sai sót y khoa ở Canada (Kỳ cuối)

Tin tức, Y tế & sức khỏe

Tom Blackwell

Khương An lược dịch

(Kỳ 1)

Monique Chisholm xem những khuyết tật của con trai Cullan là kết quả của một trong hàng chục ngàn sai sót y khoa như vậy.

Khi cô nhập viện ở Antigonish, Nova Scotia, cách đây bốn năm, tinh thần cô rất phấn chấn. Cũng dễ hiểu vì cô sắp sinh con đầu lòng và đứa cháu đầu tiên bên gia đình cô. Tuy nhiên, theo một đơn kiện về sai sót trong hành nghề y khoa mà về sau cô nộp, trong những giờ tiếp sau đó, màn hình máy theo dõi tim bào thai thể hiện “bằng chứng rõ ràng” cho thấy thai nhi đang bị thiếu ô-xy trầm trọng.

Tuy nhiên, các y tá, dưới sự giám sát của một bác sĩ chuyên khoa sản, tiếp tục chích pitocin, một loại thuốc để giúp dễ sinh nở. Việc này diễn ra dù có nhiều dấu hiệu cho thấy thai nhi đang nguy cấp và cần được cấp cứu hồi sinh, có thể bằng cách sinh mổ khẩn cấp, theo đơn kiện.

Cuối cùng bé trai Cullan được sinh ra bằng phương pháp rút chân không, cho thấy dây rốn quấn vòng quanh cổ bé, theo đơn kiện, khiến bé bị “tổn hại nghiêm trọng”, và về sau rõ ràng là bé bị tổn hại não trầm trọng.

Trong lời biện hộ, bác sĩ trả lời rằng chỉ ngay trước lúc sinh thì màn hình máy theo dõi bào thai mới thể hiện nhịp tim chậm khác thường, và bà đã tiến hành nhìn chung theo cách “cẩn trọng, khéo léo và có năng lực”.

Monique Chisholm với con trai Cullen, tại bệnh viện IWK ở Halifax, ngày 12/11/2014. (Paul Darrow/National Post)
Monique Chisholm với con trai Cullen, tại bệnh viện IWK ở Halifax, ngày 12/11/2014. (Paul Darrow/National Post)

Tuy vậy, bé Cullan hiện nay sống với một trong những dạng liệt não trầm trọng nhất. Bé cần được chăm sóc và giám sát thường xuyên, không thể tự ăn hay nói chuyện, và phải ngồi xe lăn. Bé được gia đình rất mực yêu thương, nhưng cô Chisholm nói nuôi một đứa con như vậy chẳng dễ dàng chút nào.

Cô nói rằng điều đó gây kiệt quệ cả thể xác lẫn tinh thần, tổn hại tới quan hệ hôn nhân, cô có cảm giác cay đắng và phẫn nộ khi đó là do sai sót trong hành nghề y khoa, khi nó có thể ngăn ngừa được … mà lại từ tay của người cô tin tưởng.

Thế nhưng, hiếm khi những sai sót cùng kiểu như cô Chisholm cáo buộc được báo cáo tại các cơ sở chăm sóc y tế, được chia sẻ giữa những tỉnh bang khác nhau hay thực sự được công bố.

Bốn tỉnh bang – Alberta, New Brunswick, Newfoundland và Prince Edward Island – không công bố số liệu gì về các biến cố bất lợi.

Để hình dung sơ lược về chuyện đang diễn ra ở những nơi khác, tờ National Post phân tách số liệu của cuộc nghiên cứu Baker-Norton theo dân số của mỗi tỉnh bang.

Phần lớn các tỉnh bang công bố số liệu thống kê bao gồm phạm vi chăm sóc y tế rộng hơn nhiều so với các nghiên cứu về biến cố bất lợi, trong đó có các nhã dưỡng lão, trại tâm thần và việc sinh nở. Tuy vậy, các số liệu công khai chỉ là một tỉ lệ nhỏ nhoi – từ 0,004% tới khoảng 6% – so với những gì mà các nghiên cứu cho thấy đang diễn ra ở các bệnh viện chăm sóc cấp tính.

Trong năm rồi, tỉnh bang Nova Scotia của cô Ms. Chisholm là tỉnh bang mới nhất công bố dữ liệu về sự cố nghiêm trọng. Nhưng tổng số sự cố cho sáu tháng đầu năm 2014 chỉ vỏn vẹn có 27. John McKiggan, một luật sư chuyên về kiện tụng sai sót trong hành nghề y khoa ở Halifax, nói thậm chí một số bác sĩ bạn ông cũng cười vào con số đó, cho rằng 27 vụ mỗi ngày thì đúng hơn. Ông nói họ làm vậy chỉ cốt thanh minh, chứ chẳng có tác dụng thực gì để cải thiện an toàn cho bệnh nhân.

Theo ông Darrell Horn, chuyên viên điều tra hàng đầu về “biến cố hệ trọng” từng rà soát nhiều sự cố trên toàn Canada, công bố các mô tả chi tiết về các sự cố và những bài học rút ra từ đó sẽ là cách hữu hiệu nhất để giáo dục cho nhân viên ngành y tế.

Nhưng ở đất nước này làm chuyện đó vẫn là chuyện hiếm.

Viện An toàn Bệnh nhân đã thiết lập một chương trình cảnh báo toàn cầu, nhưng chỉ có hai tổ chức ở Canada đóng góp các trường hợp: Sở Y tế Winnipeg và Viện ISMP (chỉ nhận được các báo cáo sơ sài mỗi năm). Cơ quan Dịch vụ Y tế Alberta đang thảo luận về việc cung cấp các cảnh báo bệnh nhân của tỉnh bang; tỉnh bang này thừa nhận các tài liệu đó là “hiếm có”.

Trong số chín tỉnh bang trả lời một cuộc khảo sát của tờ National Post, không có tỉnh bang nào có thể cung cấp các chi tiết về những biến cố bất lợi trong đó bệnh nhân thực sự chết, thường vì họ không thu thập thông tin đó, vì lý do bảo vệ tính riêng tư hoặc các luật lệ khác buộc phải giữ kín. Tỉnh bang Prince Edward Island đề nghị đệ đơn yêu cầu thông tin theo đạo luật Tự do Thông tin.

Và gần như không có tỉnh bang nào cung cấp báo cáo sự cố nghiêm trọng cho các tổ chức y tế bên ngoài ranh giới tỉnh bang, ngay cả cung cấp một cách bí mật.

Điều đó bao gồm một báo cáo khuyến nghị các bác sĩ chuyên khoa giải phẫu tim can thiệp ngừng mở nhạc trong phòng mổ (một tập quán phổ biến), sau khi một y tá nghe nhầm chỉ thị của bác sĩ và một giá đỡ kim loại sai cỡ được đặt vào động mạch vành của một nạn nhân.

Ông Horn nói rằng thông tin đó không bao giờ được chia sẻ với bệnh viện khác, vì bất cứ chuyện gì xảy ra trong bệnh viện là bí mật trong bệnh viện đó, và những người có thẩm quyền chia sẻ thông tin trong vùng thì lại không chia sẻ.

Một số tổ chức quốc gia có tổng hợp dữ liệu có thể giúp làm sáng tỏ các sai lầm trong chăm sóc y tế. Ví dụ, Viện Thông tin Y tế Canada công bố số liệu thống kê bao gồm các tỉ lệ nhiễm bệnh mắc tại bệnh viện, các biến cố bất lợi nói chung, chết sau đại phẫu và tái nhập viện sau khi mổ thay thế xương hông, dù giới chuyên gia tranh luận về tính đáng tin cậy của những số liệu đó.

Bộ Y tế Canada cũng có một cơ sở dữ liệu phản ứng bất lợi với thuốc, tập hợp các báo cáo dựa trên những nghi ngờ không được kiểm chứng. Tuy nhiên, cơ sở dữ liệu này chủ yếu nhằm để xác định các phản ứng phụ với thuốc men, chứ không nhất thiết các sai sót mà các bệnh viện và nhà dưỡng lão mắc phải khi cho liều uống và chích thuốc.

Không có một cơ sở dữ liệu công khai như vậy để ghi nhận các sự cố liên quan tới vô số thiết bị y khoa trong hệ thống.

Thế nhưng thông tin do tờ National Post thu thập từ Bộ Y tế Canada cho thấy cơ quan quản lý này mỗi năm nhận được khoảng 10.000 báo cáo về các sự cố nghi là do các thiết bị gây ra, có tới 1.000 ca gây thương tật nghiêm trọng và có tới 95 ca liên quan tới các trường hợp tử vong của bệnh nhân.

Năm 2012, một loạt email giữa nhân viên Bộ Y tế Canada, các cơ sở chăm sóc y tế và một hãng sản xuất tiết lộ một xu hướng đáng lo ngại liên quan tới một thiết bị: máy nâng dùng để đưa bệnh nhân không cử động được vào phòng của họ.

Được yêu cầu cung cấp theo quy định của luật quyền tiếp cận thông tin, các email này cho biết chi tiết về một loạt các sự cố trong đó các bệnh nhân rớt ra khỏi một loại máy nâng, trong số đó có ba người dường như chết.

Thế nhưng, lần duy nhất mà Bộ Y tế Canada thừa nhận công khai về vụ việc này chỉ là một thông cáo thu hồi ngắn gọn hồi tháng 7/2013. Chuyện gì xảy ra sau đó thì không được nhắc tới.

Phát ngôn viên Eric Morrissette cho biết Bộ Y tế Canada hiện đang nghiên cứu cách tăng tính minh bạch trong các báo cáo về thiết bị y khoa gởi lên cho Bộ.

Trong khi đó, ông Horn nói rằng ông đã tìm được nhiều thông tin về các sự cố thiết bị y khoa ở Canada từ một cơ sở dữ liệu của chính phủ Anh Quốc hơn từ các nguồn khác ngay tại Canada.

Trước khi một biến cố bất lợi thậm chí có cơ hội được công khai hoặc chia sẻ bên trong hệ thống, ai đó phải lên tiếng trong nội bộ. Theo số liệu do một số tỉnh bang báo cáo, điều đó không thường xảy ra.

Tại sao các nhân viên ngành y tế miễn cưỡng tiết lộ các sai lầm? Theo bác sĩ Robson, đôi khi họ chỉ không nhận ra sai sót khi chăm sóc các bệnh nhân đã bị bệnh nặng. Nhưng họ cũng sợ là rốt cuộc họ bị đổ lỗi nếu họ báo cáo một sai sót hoặc cảm thấy các báo cáo chẳng đi tới đâu khi họ nộp báo cáo.

Các luật sư thường gạt đi những nỗ lực nhằm đăng lên mạng các phiên bản nặc danh của các báo cáo, lo ngại bị kiện mà thực ra chẳng bao giờ có ai kiện.

Andy Summers, một y tá phòng cấp cứu ở Toronto trong 20 năm, nói hầu hết các bệnh viện vẫn có cách xử lý kiểu trừng phạt và hệ thống tôn ti do bác sĩ thống lĩnh không khuyến khích tính công khai cởi mở.

Ông Summers, phó chủ tịch nghiệp đoàn Hiệp hội Y tá Ontario trong 5 năm qua, nói: “Y tá rất cẩn trọng về việc nêu ra vấn đề, trình báo các sai phạm. Nếu họ có dự phần trong biến cố bất lợi, họ cảm thấy họ sẽ bị đổ lỗi. Đó là một gánh nặng to lớn. Đôi khi cứ giữ im lặng thì dễ hơn.”

Theo chuyên gia tư vấn John Pottinger, ngược lại, ngành hàng không có văn hóa luôn luôn cố gắng khuyến khích tất cả mọi người từ nhân viên hành lý tới chiêu đãi viên trên máy bay báo cáo các vấn đề về an toàn, ngay cả khi điều đó làm phật ý phi công từng được xem là Chúa. Chính những người không báo cáo một quan ngại về an toàn – chứ không phải người trình báo sai phạm – có thể bị khiển trách.

Trong khi đó, đối với các bệnh nhân gặp các sự cố trong chăm sóc y tế, dù có bị che giấu hay không, các tác động có thể vô cùng to lớn.

Bà Church, nguyên là viên chức quản lý quan hệ khách hàng ở American Express nay đã về hưu, hiện có một con mắt giả thay cho mắt phải của bà, làm hạn chế cuộc sống rất năng động của bà trong đó có chơi golf bốn lần mỗi tuần.

Và cơn đau đã dẫn tới chẩn đoán u nang buồng trứng (mà chưa hề được chữa trị) vẫn khiến bà mất ngủ ban đêm.

Bà nói: “Cuộc sống của tôi hoàn toàn bị đảo lộn. Tôi nghĩ thật kinh tởm là những người này có thể làm chuyện như vậy, mà không lãnh hậu quả gì cả. … Tôi nghĩ người dân nên biết về các sai sót y khoa, và người dân nên đặt câu hỏi, nên chất vấn”

Chúng ta biết gì về sai sót y khoa?

Năm 2004 một cuộc nghiên cứu của Ross Baker và Peter Norton phân tích các biểu đồ bệnh nhân ở một mẫu đại diện cho các bệnh viện Canada, và đưa ra các ước tính về số biến cố bất lợi xảy ra trong một năm trung bình. Do thiếu số liệu chính thức về các sai sót y khoa ở các bệnh viện Canada, một cách để có con số phỏng tính về các biến cố bất lợi là dùng số liệu Baker-Norton rồi chia chúng theo dân số các tỉnh bang.

British Columbia

Ước tính số biến cố bất lợi: 24.310 biến cố, 1.202-3.087 ca tử vong

Số biến cố được báo cáo: Khoảng 9.800 biến cố không được định nghĩa (nói cách khác, không công bố chi tiết), không có ca tử vong nào được báo cáo cho năm 2010-11

Alberta

Ước tính số biến cố bất lợi: 21.310 biến cố, 1.054-2.707 ca tử vong

Số biến cố được báo cáo: Không báo cáo công khai

Saskatchewan

Ước tính số biến cố bất lợi: 5.984 biến cố, 296-760 ca tử vong

Số biến cố được báo cáo: 195 biến cố, 30 ca tử vong được báo cáo cho năm 2013-14

Manitoba

Ước tính số biến cố bất lợi: 6.732 biến cố, 333-855 ca tử vong

Số biến cố được báo cáo: 526 biến cố, 52 ca tử vong được báo cáo cho năm 2011-12

Ontario

Ước tính số biến cố bất lợi: 71.995 biến cố, 3.561-9.143 ca tử vong

Số biến cố được báo cáo: 29 biến cố, sáu ca tử vong được báo cáo cho năm 2013

Quebec

Ước tính số biến cố bất lợi: 43.384 biến cố, 2.146-5.510 ca tử vong

Số biến cố được báo cáo: Khoảng 3.072 biến cố, 297 ca tử vong được báo cáo cho năm 2013-14

New Brunswick

Ước tính số biến cố bất lợi: 4.114 biến cố, 203-522 ca tử vong

Số biến cố được báo cáo: Không báo cáo công khai

Nova Scotia

Ước tính số biến cố bất lợi: 5.049 biến cố, 250-641 ca tử vong

Số biến cố được báo cáo: 27 biến cố, 0 ca tử vong được báo cáo cho tháng 1 tới tháng 6/2014

Newfoundland

Ước tính số biến cố bất lợi: 2.085 biến cố, 138-356 ca tử vong

Số biến cố được báo cáo: Không báo cáo công khai

Prince Edward Island

Ước tính số biến cố bất lợi: 748 biến cố, 37-95 ca tử vong [ước tính]

Số biến cố được báo cáo: Không báo cáo công khai

Nguồn: National Post, 16/1/2015

Facebook Comments
About these ads

Trả lời