Thời gian nhìn qua lăng kính văn hóa

Làm giàu, Tạp nhạp

Phạm Vũ Lửa Hạ

timepiece-10Con người thường xem thời gian là một khía cạnh khách quan và có thể định lượng được trong cuộc sống.  Issac Newton xem thời gian là một đại lượng tuyệt đối, là một phần của thế giới tự nhiên.  Theo đó, khi ra đời ta đã thấy có sẵn 24 giờ mỗi ngày, chẳng thể nào thay đổi được điều đó theo ý mình.

Từ thế kỷ 19, các nhà triết học bắt đầu có quan niệm khác về thời gian: họ không xem đó là một khía cạnh của thế giới tự nhiên, mà cho rằng thời gian có thể phụ thuộc cách con người cảm nhận thế giới.  Theo Kant, thời gian là một dạng tổng hợp của ý thức, là một cách sắp xếp tổ chức kinh nghiệm sống.  Các nhà nhân chủng học cũng theo lối suy nghĩ này; và cho rằng cảm nhận về thời gian tùy thuộc vào từng người và từng nền văn hóa cụ thể.  Quan niệm “nữ thập tam, nam thập lục” là một ví dụ.  Nhiều ví dụ đời thường cho thấy cảm nhận về thời gian rất chủ quan: sang thứ bảy 9 giờ mới dậy mà nghĩ là sớm; hai tiếng đồng hồ trong phòng thi sao mà nhanh thế, trong khi đợi người yêu có 5, 10 phút cứ như đằng đẵng cả thế kỷ.

Thời gian thường được chia thành ba mảng chính: tâm lý, sinh học, và văn hóa.  Thời gian tâm lý là cách con người suy nghĩ hay cảm nhận về thời gian và ảnh hưởng của thời gian đến cách sống và giao tiếp hàng ngày.   Thời gian sinh học là cách cơ thể con người cảm nhận và phản ứng với thời gian, và ảnh hưởng của thời gian đối với thể chất con người.  Thời gian văn hóa (trọng tâm của bài này) là cách xã hội sắp xếp tổ chức và sử dụng thời gian. 

Thời gian văn hóa có ba phần chính. Thứ nhất là thời gian kỹ thuật với các số đo chính xác dùng trong nghiên cứu khoa học.  Thứ hai, thời gian chính thức là cách một nền văn hóa theo dõi thời gian.  Ví dụ, người da đỏ bộ tộc Jivaro trong rừng nhiệt đới Amazon của Nam Mỹ chia thời gian thành hai ngôn ngữ khác nhau; một diễn dịch thời gian theo vị trí của mặt trời và một chia năm thành nhiều mùa.  Thứ ba là thời gian không chính thức, tức là quy ước của từng xã hội về những khái niệm giờ giấc, và đây chính là nguồn gốc của những trường hợp “đâu cái điền” vì khác biệt văn hóa.  Tùy theo văn hóa, “ngay lập tức” có thể là 1 phút, 1 ngày hay 1 tuần.  Ví dụ, khi một công ty Mỹ gởi fax hỏi giá, họ muốn người nhận trả lời ngay bằng fax hay điện thoại.  Nếu người gởi là người Nhật hay Ả rập, bạn có thể đủng đỉnh phúc đáp, thậm chí gởi thư trả lời cũng được.

Giáo sư tâm lý Robert Levine kể một chuyện lý thú về khác biệt văn hóa trong cách nhìn nhận về thời gian.  Ngày đầu tiên sang dạy ở Brazil, ông có lớp lúc 10 giờ sáng.  Từ lúc 9 giờ ông đã thong thả tản bộ trong khuôn viên trường để đến lớp.  Chừng nửa tiếng sau, ông hoảng hồn khi thấy một đồng hồ trong sân trường chỉ 10h20.  Thấy trễ quá, ông rảo bước nhanh hơn.  Đến nơi ông thấy lớp vẫn vắng tanh.  Ông hỏi giờ nhiều người, và càng ngạc nhiên khi thấy mỗi người nói mỗi kiểu khác nhau, thậm chí chênh lệch rất nhiều.  Đồng hồ của phòng kế bên còn chỉ 3:15.  Hóa ra sinh viên vẫn còn đủng đỉnh tới lớp rất muộn.  Về sau, ông mới biết đồng hồ của người Brazil thường không chính xác, mà cũng chẳng ai thèm quan tâm.

Ngược lại, có những nơi như ở Bắc Mỹ, người ta rất ám ảnh về thời gian.  Các khóa học về quản lý thời gian luôn ăn khách.  Đi đâu cũng thấy đồng hồ: trên bàn làm việc, trong phòng học, tròng nhà bếp, phòng ngủ và thậm chí cả nhà vệ sinh, trên cả bút viết, đồ trang sức, trên TV, radio …  Thời buổi tân tiến, rất nhiều người mang Palm Pilot kè kè bên mình.  Tôi có anh bạn mất ăn mất ngủ vì đánh mất cái Palm Pilot với toàn bộ thời gian biểu cho mấy tháng trời.

Theo nghiên cứu của Farid Elashmawi và Philip Harris, thời gian xếp thứ 8 trong những giá trị quan trọng nhất đối với người Mỹ, trong khi nó không có mặt trong Top 20 của người Nhật và Ả rập.  Tuy nhiên, người Nhật và Ả rập coi trọng chất lượng cao hơn là lợi ích tức thì, và họ kiên nhẫn đợi cho được kết quả tốt nhất.    Khi làm ãn, người Mỹ đi thẳng vào vấn đề và bất cứ thời gian nào không dành để giải quyết công việc trước mắt bị xem là lãng phí, và do vậy phí tiền.  Ngược lại, ở Nhật hay một số nước châu Âu, trước khi ký hợp đồng, người ta dành nhiều thời gian để làm quen, tạo quan hệ.

Các nhà nghiên cứu vãn hóa đã đúc kết hai hình ảnh về thời gian. Có người xem thời gian là một đường thẳng với những sự kiện diễn ra theo trình tự nối tiếp.  Trong vãn hóa trình tự, tập quán là giờ nào việc đó, bởi vậy lịch làm việc có ý nghĩa rất quan trọng.  Người ta rất coi trọng giờ hẹn, phải nhất nhất theo đúng lịch đã chuẩn bị sẵn từ trước.  Ví dụ, người Mỹ mới có câu: “Thời gian là tiền bạc”, và luôn muốn giải quyết công việc nhanh chóng và trực tiếp.  Trong giao tiếp với người Mỹ, tôi nghiệm ra rằng một trong những câu cảm ơn hiệu quả nhất là “Thank you for your time.

Có người xem thời gian là một đường tròn gồm những sự việc mang tính chu kỳ và lặp đi lặp lại.  Ðây là kiểu tư duy thời gian đồng bộ.  Theo đó, người ta có thể làm nhiều việc cùng một lúc.  Lịch làm việc không quan trọng, giờ hẹn không cần chính xác.  Ví dụ, người Ả rập xem hiện tại là sự nối dài của quá khứ, và tương lai tùy thuộc rất nhiều vào ý muốn của thánh Allah.  Họ không coi trọng thời gian theo kim đồng hồ như ở Mỹ, Anh, hay Ðức.  Khi hẹn gặp, họ thường đưa ra một quãng thời gian (từ 10 đến 11 giờ chẳng hạn), chứ không phải một thời điểm cụ thể.

Cách hoạch định công việc khác biệt đáng kể giữa vãn hóa trình tự và vãn hóa đồng bộ.  Trong kiểu hoạch định theo trình tự, chẳng hạn như ở Anh, quan trọng nhất là lập kế hoạch cho mọi thứ từ đầu đến cuối, và cố gắng làm đúng hạn định.  Khi môi trường thay đổi, mọi thứ phải được tính toán lại từ đầu.  Ðối với kiểu hoạch định đồng bộ, chẳng hạn như ở Ý, mục tiêu mới là quan trọng nhất; càng vạch ra được nhiều con đường để đạt tới mục tiêu đó, ta càng dễ thiên biến vạn hóa hơn để ứng phó với những diễn tiến bất ngờ làm tắc nghẽn một con đường nào đó.  Những sự kiện thành công lớn như World Cup 1990 ở Ý và Olympics 1992 ở Tây Ban Nha là ví dụ điển hình của cách tổ chức kiểu đồng bộ.  Tại Olympics 1996 ở Atlanta, người Mỹ với tư duy trình tự dường như gặp nhiều khó khãn trong việc thích ứng với những cảnh huống bất ngờ.  Nhiều nghiên cứu cho thấy kiểu hoạch định theo trình tự ít đạt hiệu quả trong môi trường nhiều biến động. Có nhiều công ty lớn hiện nay đã chuyển sang kiểu hoạch định theo nhiều kịch bản khác nhau, một biến thể của hoạch định đồng bộ.

Một khía cạnh quan trọng khác của quan niệm về thời gian là định hướng theo quá khứ, hiện tại hay tương lai.  Những vãn hóa theo định hướng quá khứ hay hiện tại (chẳng hạn như Pháp) nhấn mạnh tầm quan trọng của lịch sử, truyền thống, di sản phong phú, và hào quang xưa.  Nhà nghiên cứu và chuyên gia tư vấn văn hóa kinh doanh Charles Hampden-Turner (người Anh) kể về một thất bại do không hiểu rõ định hướng thời gian.  Tại một lớp học về quản trị do ông và một đồng nghiệp người Hà Lan dạy cho các nhà doanh nghiệp ở Ethiopia, học viên liên tục nhắc đến thời hoàng kim xa xưa của nền vãn minh Ethiopia, và không chịu công nhận bất kỳ nguyên tắc quản lý nào không dựa vào quá khứ.  Sau đó, các giảng viên buộc phải nghiên cứu lịch sử Ethiopia rồi áp dụng vào quản trị hiện đại, chẳng hạn như thời xưa Ethiopia đã làm gì để phát triển thương mại và giúp các thành phố trở nên thịnh vượng.

Những vãn hóa theo định hướng tương lai (ví như ở Mỹ) coi trọng thành quả hiện tại, và cơ hội phát triển thành quả đó về lâu về dài.  Người Mỹ rất thích theo dõi các bảng xếp hạng thành tích và dự báo tương lai.  Khi thuyết trình, họ cũng thường để ý nhấn mạnh đến triển vọng kinh doanh tương lai.  Tuy nhiên, khung thời gian tương lại của họ không dài lắm.  Tầm nhìn tương đối dài hạn của người Nhật khác hẳn so với lối tư duy “theo từng quý” của người Mỹ.  Ví dụ, khi Nhật muốn mua lại công ty quản lý Công viên quốc gia Yosemite ở California, trước tiên họ trình một kế hoạch kinh doanh cho 250 nãm. Phản ứng của chính quyền California: “Trời đất, vậy là bằng 1000 báo cáo hàng quý”.

Tham khảo:

  1. Fons Trompenaars, & Charles Hampden-Turner, Riding the Waves of Culture – Understanding Cultural Diveristy in Global Business, McGraw-Hill 1998.
  2. Farid Elashmawi, & Philip Harris, Multicultural Management 2000: Essential Cultural Insights for Global Business Success, Gulf Publishing Company 1998.

Trích từ tập sách Một góc nhìn kinh doanh(trang 152-156), NXB Trẻ 2005. Bài gốc đăng trên Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn, ngày 2/1/2003.

Facebook Comments
Advertisements

3 comments

Trả lời

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.