Hệ quả địa chính trị của cuộc cách mạng dầu khí đá phiến (Kỳ 1)

Làm giàu, Làm quan

Cuộc khủng hoảng tại bán đảo Crimea một lần nữa khiến thế giới lo ngại về khả năng xảy ra cuộc chiến khí đốt, và hâm nóng cuộc tranh luận về ngoại giao dầu khí. Khi cân nhắc các biện pháp trừng phạt đối với Nga, Liên hiệp Châu Âu và Mỹ không thể bỏ qua các hệ quả liên quan của nguồn cung năng lượng từ Nga dành cho Ukraine nói riêng và Châu Âu nói chung. Xin trích dịch giới thiệu bài viết sau đây để cung cấp một góc nhìn về các tác động địa chính trị của sự bùng nổ năng lượng ở Mỹ gần đây.

Ưu thế năng lượng của Mỹ: Các hệ quả địa chính trị của cuộc cách mạng dầu khí đá phiến

Robert D. Blackwill và Meghan L. O’Sullivan, Tạp chí Foreign Affairs, tháng 3 & 4/2014

Phạm Vũ Lửa Hạ lược dịch

Chỉ cách đây 5 năm, nguồn cung dầu của thế giới tưởng chừng sắp chạm đỉnh, và do sản lượng khí đốt truyền thống giảm ở Mỹ, dường như Mỹ sẽ phụ thuộc vào khí đốt nhập khẩu giá đắt. Nhưng từ đó đến nay, những tiên đoán đó hóa ra vô cùng sai lầm. Hoạt động sản xuất năng lượng toàn cầu đã bắt đầu chuyển hướng khỏi các nước cung cấp truyền thống ở khu vực Á-Âu (Eurasia) và Trung Đông, khi các hãng sản xuất khai thác các nguồn tài nguyên dầu khí không truyền thống trên thế giới, từ những vùng biển của Úc, Brazil, Châu Phi và Địa Trung Hải tới các mỏ dầu cát ở Alberta, Canada. Tuy nhiên, cuộc cách mạng lớn nhất đã diễn ra ở Mỹ, nơi các hãng sản xuất tận dụng hai công nghệ mới trở nên thiết thực để khai thác các tài nguyên từng bị xem là không khả thi về mặt thương mại: kỹ thuật khoan chiều ngang (horizontal drilling) cho phép giếng khoan đi xuyên qua những phiến đá nằm sâu dưới đất, và kỹ thuật dập vỡ bằng thủy lực (hydraulic fracturing, hay fracking) bơm chất lỏng áp lực cao để chiết tách khí và dầu ra khỏi các thành hệ địa chất.

Kết quả là sự gia tăng đáng kể về sản xuất năng lượng. Từ năm 2007 đến năm 2012, sản lượng khí đốt từ đá phiến của Mỹ tăng hơn 50% mỗi năm, và tỉ lệ của nó trong tổng sản lượng khí đốt của Mỹ đã tăng từ 5% lên đến 39%. Các trạm đầu mối trước đây nhằm mục đích đưa khí đốt hóa lỏng (LNG) nhập ngoại đến với người tiêu dùng ở Mỹ nay đang được cải tạo để xuất khẩu LNG của Mỹ ra nước ngoài. Từ năm 2007 đến năm 2012, kỹ thuật dập vỡ bằng thủy lực cũng đã giúp tăng 18 lần sản lượng dầu chặt nhẹ (light tight oil), loại dầu chất lượng cao có trong đá phiến hay sa thạch có thể chiết tách bằng fracking. Sự bùng nổ này đã đảo ngược được chiều hướng sút giảm từ lâu về sản lượng dầu thô của Mỹ; sản lượng này đã tăng 50% từ năm 2008 đến 2013. Nhờ những diễn biến này, Mỹ hiện nay sắp sửa trở thành một siêu cường quốc năng lượng. Năm ngoái, Mỹ qua mặt Nga để chiếm vị trí nước sản xuất năng lượng hàng đầu thế giới, và theo dự báo của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), Mỹ sẽ qua mặt Saudi Arabia để thành nước sản xuất dầu thô hàng đầu thế giới.

Gần đây đã có nhiều bài viết về việc khám phá các mỏ dầu khí mới trên thế giới, nhưng các nước khác sẽ khó lặp lại thành công của Mỹ. Cuộc cách mạng fracking đòi hỏi không chỉ có đặc điểm địa chất thuận lợi; mà còn cần có giới đầu tư tài chính dám chấp nhận rủi ro, có hệ thống quyền sở hữu tài sản cho phép chủ đất khai thác các tài nguyên dưới đất, mạng lưới cung cấp dịch vụ và cơ sở hạ tầng phân phối, và một cơ cấu ngành công nghiệp với hàng ngàn doanh nghiệp chứ không phải chỉ một công ty dầu quốc doanh duy nhất. Tuy nhiều nước có đặc điểm địa chất phù hợp, ngoại trừ Canada, không có nước nào có môi trường công nghiệp thuận lợi như ở Mỹ.

Cuộc cách mạng năng lượng của Mỹ không chỉ có những tác động thương mại, mà còn có những hệ quả địa chính trị sâu rộng. Các bản đồ thương mại năng lượng toàn cầu đang được vẽ lại khi lượng nhập khẩu của Mỹ tiếp tục giảm xuống và các nhà xuất khẩu tìm ra các thị trường mới. Ví dụ, phần lớn dầu của Tây Phi hiện nay xuất sang Châu Á, thay vì sang Mỹ. Và khi sản lượng của Mỹ tiếp tục tăng lên, điều đó sẽ gây áp lực giảm giá dầu và khí đốt trên toàn cầu, do đó giảm ưu thế địa chính trị mà một số nước cung cấp năng lượng đã có trong nhiều thập niên. Phần lớn các nước sản xuất năng lượng không có nền kinh tế đa dạng hóa, ví dụ như Nga và các chế độ quân chủ ở Vùng Vịnh, sẽ thua thiệt, trong khi các nước tiêu thụ năng lượng, chẳng hạn Trung Quốc, Ấn Độ, và các nước Châu Á khác, sẽ được lợi.

Tuy nhiên, Mỹ sẽ được lợi nhiều nhất. Kể từ năm 1971, khi sản lượng dầu của Mỹ đạt tới mức cao nhất, năng lượng đã được xem là gánh nặng chiến lược của Mỹ, với nhu cầu ngày càng tăng của Mỹ đối với các nhiên liệu hóa thạch có giá cả phải chăng mà đôi khi khiến Mỹ phải có những liên minh không phù hợp và các nghĩa vụ phức tạp ở nước ngoài. Nhưng logic đó đã bị đảo lộn, và nguồn năng lượng mới được khai thác sẽ thúc đẩy kinh tế Mỹ và giúp Washington có được ưu thế mới trên thế giới

Giá cả hợp lý

Dù luôn khó tiên đoán tương lai của các thị trường năng lượng toàn cầu, ảnh hưởng chính mà cuộc cách mạng năng lượng Bắc Mỹ sẽ mang lại hiện đang thể hiện rõ: nguồn cung năng lượng toàn cầu sẽ tiếp tục tăng và đa dạng hóa. Các thị trường khí đốt sẽ là nơi đầu tiên cảm nhận tác động này. Trong quá khứ, giá khí đốt chênh lệch rất lớn giữa ba thị trường khác biệt Bắc Mỹ, Châu Âu, và Châu Á. Ví dụ, vào năm 2012, giá khí đốt ở Mỹ là 3 Mỹ kim / triệu BTU, còn ở Đức là 11 Mỹ kim và ở Nhật là 17 Mỹ kim.

Xu hướng giá khí đốt tại các thị trường lớn (Nhật - Japan, UK - Vương quốc Anh, và US - Mỹ). Nguồn: U.S. Energy Information Administration, dựa trên theo Bloomberg, L.P.
Xu hướng giá khí đốt tại các thị trường lớn (Nhật – Japan, UK – Vương quốc Anh, và US – Mỹ). Nguồn: U.S. Energy Information Administration, dựa trên theo Bloomberg, L.P.

Nhưng khi Mỹ chuẩn bị sản xuất và xuất khẩu khí đốt hóa lỏng (LNG) với số lượng nhiều hơn, các thị trường đó sẽ ngày càng hội nhập hơn. Hiện giới đầu tư đã xin chính phủ phê duyệt hơn 20 dự án xuất khẩu LNG ở Mỹ. Bất luận cuối cùng sẽ có bao nhiêu dự án được thực hiện, lượng xuất khẩu từ các dự án này sẽ làm tăng đáng kể lượng LNG hiện đang có ở những nơi khác. Úc sắp qua mặt Qatar để thành nước cung cấp LNG lớn nhất thế giới; đến năm 2020, lượng xuất khẩu tính chung Mỹ và Canada sẽ gần bằng với công suất LNG hiện tại của Qatar. Dù sự hội nhập của các thị trường khí đốt Bắc Mỹ, Châu Âu, và Châu Á sẽ cần nhiều năm đầu tư cơ sở hạ tầng và, ngay cả khi đó, kết quả sẽ không hợp nhất bằng thị trường dầu toàn cầu, sản lượng gia tăng sẽ góp phần gây áp lực giảm giá khí đốt ở Châu Âu và Châu Á trong những thập niên sắp tới.

Hệ quả địa chính trị khả dĩ quan trọng nhất của sự bùng nổ năng lượng ở Bắc Mỹ là sự gia tăng sản lượng dầu Mỹ và Canada có thể gây xáo trộn về giá dầu toàn cầu – giá có thể giảm ít nhất 20%. Hiện nay, giá dầu chủ yếu do Tổ chức Các nước Xuất khẩu dầu (OPEC) quyết định; tổ chức này quản lý sản lượng ở các nước thành viên. Khi có những xáo trộn bất ngờ về sản xuất, các nước OPEC (chủ yếu Saudi Arabia) cố bình ổn giá bằng cách tăng sản lượng, làm giảm công suất dư thừa trên toàn cầu. Khi công suất dư thừa giảm xuống dưới mức 2 triệu thùng mỗi ngày, thị trường hoảng loạn, và giá dầu có xu hướng tăng lên. Khi thị trường thấy công suất dư thừa tăng lên trên mức khoảng 6 triệu thùng mỗi ngày, giá có xu hướng giảm xuống. Trong khoảng 5 năm qua, các nước thành viên OPEC đã cố gắng cân đối giữa nhu cầu cần tăng ngân sách của mình với nhu cầu cần cung cấp đủ lượng dầu để nền kinh tế toàn cầu tiếp tục vận hành trơn tru, và họ đã cố gắng giữ được giá dầu ở mức khoảng từ 90 đến 110 Mỹ kim mỗi thùng.

Khi có thêm dầu Bắc Mỹ tràn ngập thị trường, khả năng của OPEC trong việc kiểm soát giá sẽ bị thách thức. Theo dự báo của Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ, từ năm 2012 đến 2020, mỗi ngày Mỹ dự kiến sẽ sản xuất thêm hơn ba triệu thùng dầu mới và các nhiên liệu lỏng khác, chủ yếu từ dầu chặt nhẹ (light tight oil). Những khối lượng mới này, cộng với các nguồn cung mới từ Iraq và những nơi khác, có thể làm tràn ngập nguồn cung, khiến giá giảm xuống – nhất là khi nhu cầu sử dụng dầu toàn cầu giảm đi do hiệu quả tăng lên hoặc tăng trưởng kinh tế chậm lại. Nếu vậy, OPEC có thể khó giữ được kỷ cương trong các nước thành viên; hiếm có nước thành viên nào chịu hạn chế sản xuất dầu trong khi các đòi hỏi xã hội phát sinh nhiều hơn và tình trạng bất định chính trị tăng lên. Giá dầu giảm liên tục sẽ làm sút giảm nguồn thu mà họ cần để trang trải những khoản chi tiêu của mình.

(Còn tiếp 2 kỳ: Kỳ 2, Kỳ cuối)

Robert D. Blackwill là nghiên cứu viên cao cấp hàm Henry A. Kissinger về chính sách đối ngoại Mỹ tại Hội đồng Quan hệ Đối ngoại (Council on Foreign Relations). Meghan L. O’sullivan là giáo sư thực hành hàm Jeane Kirkpatrick về các vấn đề quốc tế tại Trường Quản lý Nhà nước Kennedy thuộc Đại học Harvard. Bà cũng tư vấn cho các công ty năng lượng về rủi ro địa chính trị. Cả hai đều làm việc cho Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ trong chính quyền của tổng thống George W. Bush.

Nguồn: Robert D. Blackwill and Meghan L. O’Sullivan, America’s Energy Edge – The Geopolitical Consequences of the Shale Revolution, Foreign Affairs, March/April 2014 Issue

Bản tiếng Việt © 2014 Phạm Vũ Lửa Hạ

(Bài lược dịch, ký tên Khương An, đã đăng 2 kỳ trên Thời Mới Canada, ngày 12 & 19/3/2014.)

Bài liên quan: Dầu khí đá phiến: cuộc vui sắp tàn?

Facebook Comments
Advertisements

One thought on “Hệ quả địa chính trị của cuộc cách mạng dầu khí đá phiến (Kỳ 1)

Trả lời