Viện Khổng Tử là công cụ tuyên truyền của Trung Cộng ở hải ngoại (Kỳ cuối)

Chuyện xứ lạ, Làm quan

Marshall Sahlins 

Phạm Vũ Lửa Hạ dịch

(Kỳ 1; Kỳ 2)

ci_flagsTrong nhiều năm, chỉ những trường cao đẳng và đại học nhỏ – cũng như hệ thống Trường Công lập Chicago – ký thỏa thuận lập Viện Khổng Tử. Nhưng gần đây, các trường đại học nghiên cứu lớn như Michigan, Đại học California ở Los Angeles (UCLA), Columbia, Stanford và Chicago đã tham gia chương trình Viện Khổng Tử. (Một ngoại lệ là Đại học Pennsylvania đã từ chối đề nghị của Hán Biện xin mở Viện Khổng Tử tại trường này.) Cũng chẳng có gì lạ là các trường này ký được các thỏa thuận béo bở hơn các trường ít tên tuổi tham gia sớm hơn. Song, do chỉ phải cấp cho Columbia một triệu Mỹ kim trong 5 năm, và một khoản ban đầu 200.000 Mỹ kim cho Đại học Chicago, Trung Quốc có được giá quảng cáo quá hời, nếu không nói là còn lợi ích khác nữa. Thật khó hiểu tại sao các Đại học Chicago và Columbia lại chấp nhận những khoản tiền còm cõi như vậy, ngoại trừ có thể là họ chấp nhận lỗ để dọn đường cho các trung tâm học thuật hải ngoại quan trọng mà họ sắp thành lập ở Bắc Kinh.

Stanford thương lượng giỏi hơn cả hai đại học nói trên và buộc Hán Biện phải trả 4 triệu Mỹ kim: 1 triệu để tổ chức các hội nghị, 1 triệu để cấp học bổng sau đại học, và 2 triệu tài trợ cho một chức danh giáo sư. Một giáo sư Stanford nhận xét rằng “thật thuận tiện cho tất cả các bên liên quan” khi chức danh giáo sư đó được phân cho lĩnh vực thơ ca Trung Hoa cổ điển, “chủ đề chẳng nhạy cảm về bất cứ phương diện chính trị đương đại nào”. Richard Saller, vị trưởng khoa của Stanford đã thương thảo được thỏa thuận này, cũng bác bỏ một đề nghị của Trung Quốc đòi hạn chế thảo luận về Tây Tạng. Saller, một học giả được đánh giá cao về La Mã cổ đại, sau đó trở thành viện trưởng Viện Khổng Tử của Stanford, dù quy chế của Hán Biện quy định rằng viện trưởng Viện Khổng Tử cần “có hiểu biết sâu sắc về các vấn đề quốc dân hiện tại của Trung Quốc”. Nhưng bằng cách riêng của mình, Saller hiểu rõ về các vấn đề quốc dân hiện tại của Trung Quốc để biết tỏng rằng Hán Biện muốn cư xử hào phóng và thận trọng với Stanford vì rất muốn dùng sự tham gia của một trường đại học có uy tín cho các mục đích lớn hơn của mình; mối quan hệ với Stanford quá quý giá nên Hán Biện không muốn gây sứt mẻ. Saller nói rằng các quan chức Hán Biện “rất mong tạo được chỗ đứng ở Stanford”. Theo ông, sở dĩ như vậy là do Trung Quốc muốn tạo được một Đại học Stanford và Thung lũng Silicon của chính mình.

Ngay cả khi Saller nói đúng, việc gắn kết Viện Khổng Tử với Stanford và các trường cùng tầm cỡ đã mang lại nhiều thuận lợi khác cho chính quyền Trung Quốc: đó là khuyến khích các trường khác tham gia. Theo tờ The GW Hatchet, tờ báo của sinh viên Đại học George Washington, sau khi so sánh một cách vô trách nhiệm Viện Khổng Tử với Hội đồng Anh (không có mặt ở các trường đại học), vị trưởng khoa phụ trách đàm phán việc thành lập một Viện Khổng Tử ở Đại học George Washington đã nhắc đến tinh thần đoàn kết với các trường đại học khác. Bà nói với tờ Hatchet, “Tôi nghĩ chúng ta đã thấy các trường đại học hàng đầu khác mở Viện Khổng Tử, và nhờ đó chúng ta thấy dễ chịu hơn.” Bà nêu ví dụ Đại học Chicago.

* * *

Việc thành lập Viện Khổng Tử ở Đại học Chicago được đánh dấu, đúng như mong đợi, bằng chủ trương “tự do kinh doanh” về cả sự hình thành lẫn nội dung học thuật. Gần đây [cựu bộ trưởng tài chính Mỹ] Henry Paulson đóng góp mấy triệu Mỹ kim cho một viện mang tên ông [Viện Paulson], nằm trong một tòa nhà của riêng viện trên lô đất vàng gần cơ sở chính của trường. Hiện nay gần cơ sở này đang có công trình sửa chữa một khu nhà thờ lớn để thành trụ sở mới của Khoa Kinh tế nổi tiếng của Đại học Chicago và Viện Becker Friedman, do vậy khiến các kiến trúc đau đầu nhức óc vì phải thay đổi cách bố trí chức năng hoạt động của tòa nhà này trong khi vẫn bảo tồn đặc trưng tôn giáo của nó. Ngoài việc cung cấp giáo viên Hán ngữ từ Trung Quốc, Viện Khổng Tử từ trước đến nay cũng đã tài trợ cho rất nhiều nghiên cứu về các khía cạnh của phát triển kinh tế – thực ra nghiên cứu kinh tế nhiều hơn dạy ngôn ngữ. Cũng giống như các viện khác ở Đại học Chicago, nguồn gốc của Viện Khổng Tử ở đó gắn liền với một người: đó là nhà chính trị học Dali Yang; lúc soạn đề án cho Viện Khổng Tử, ông là giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Đông Á. Trong khoảng một năm, ông Yang đã giúp đề án này lọt qua các cuộc đàm phán với các quan chức Trung Quốc, các nhà quản lý Đại học Chicago, và các giáo sư đồng nghiệp.

Yang không chỉ tự mình xây dựng viện này; nỗ lực của ông đã thành công vì nó vận dụng các hoàn cảnh của trường lớn để có sức thuyết phục và sự hậu thuẫn hiệu quả. Một mặt là sự sẵn sàng thông đồng của giới quản lý đại học này, mà cũng giống như ở nhiều nơi khác có chiều hướng khao khát tiền tài và danh vọng đến khó coi. Đại học Chicago rất tự hào về các truyền thống của mình. (Theo lời kể của Thorstein Veblen trong cuốn Giáo dục đại học ở Mỹ [The Higher Learning in America, 1918], đầu thế kỷ 20, những học giả hàng đầu đã có tinh thần cạnh tranh về uy danh của trường và sự kính trọng của công chúng dành cho trường.) Mặt khác, Yang biết cách thay đổi cho thích nghi với trọng tâm mới của Hán Biện nhắm vào “nghiên cứu cốt lõi”, và đặc biệt là việc phía Trung Quốc dường như mê mẩn Trường phái kinh tế học Chicago. Theo Ted Foss, Trung tâm Nghiên cứu Đông Á thường nhận được những cuộc gọi dồn dập từ Lãnh sự quán Trung Quốc xin sắp xếp để một phái đoàn quan chức cao cấp sang tham quan được chụp ảnh với Gary Becker [người được giải Nobel Kinh tế năm 1992].

Ở Chicago, Hán Biện cầu được ước thấy: không chỉ có được nhiều đề án nghiên cứu về phát triển kinh tế Trung Quốc, mà hàng năm còn tổ chức được một Hội thảo Đại học Chicago-Đại học Nhân Dân về Kinh tế học Gia đình và Lao động, hiện nay đã bước sang năm thứ tư. Là trường đối tác của các Viện Khổng Tử ở hơn một chục trường khác ngoài Đại học Chicago, Đại học Nhân Dân, hơn bất cứ đại học nào khác ở Trung Quốc, có tiếng là hai mặt. Ở Chicago, nó được khoe là trường đại học hàng đầu Trung Quốc về khoa học xã hội và nhân văn, trong khi ở Trung Quốc nó được mọi người gọi là trường đại học của đảng, vì nó do Đảng Cộng sản thành lập, và là một trung tâm chính để đào tạo cán bộ nhà nước. Viện Khổng Tử ở Chicago tạo ra hình ảnh lố bịch của Trung Cộng dùng tên của Khổng Tử để truyền bá ý thức hệ tư bản chủ nghĩa thuần túy cổ xúy sự lựa chọn duy lý.

Mâu thuẫn còn lớn hơn nữa là Viện Khổng Tử vận dụng các truyền thống được trân trọng của Đại học Chicago về tư tưởng thả nổi tự do, trên cả khía cạnh tự do học thuật lẫn khía cạnh triết lý kinh tế, trong một công cuộc toàn cầu nhằm tăng tầm ảnh hưởng chính trị của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Sự kết hợp đối chọi này giữa tinh thần tự do kinh doanh và sự kiềm chế của chính phủ đã có hồi tháng 4/2008, khi Dali Yang và Ted Foss tham khảo ý kiến của một viên lãnh sự giáo dục Trung Quốc ở Chicago về các điều kiện bắt buộc tổng quát cho một Viện Khổng Tử. Theo lời kể của hai vị này – trong đó có một phác thảo lịch sử của Viện Khổng Tử Chicago do Yang viết – quá trình tham vấn sau đó có “phần thông báo” sớm cho các vị trưởng khoa nhân văn và khoa học xã hội. Sau đó, Yang trình bày đề án về một Viện Khổng Tử ở Đại học Chicago với các học giả về Trung Quốc của Trung tâm Nghiên cứu Đông Á, và sau khi thảo luận đôi chút các học giả này nhất trí chấp thuận cho thành lập viện. Đây là nhóm duy nhất được bỏ phiếu (các học giả về Triều Tiên và Nhật hoàn toàn không được hỏi ý kiến), và họ nằm trong số những giáo sư duy nhất của Đại học Chicago biết về viện này trước khi nó được khánh thành.

Về sau, vào năm 2010, sau khi tin tức về thỏa thuận này được công bố, 174 giáo sư Đại học Chicago ký đơn phản đối việc giới quản lý của trường đã dại dột chấp nhận cho mở Viện Khổng Tử mà không được sự đồng ý của ban quản trị có quyền đại diện cho họ. Theo Dali Yang, ủy ban điều hành của Trung tâm Nghiên cứu Đông Á đã bàn bạc về Viện Khổng Tử trong năm trước khi viện này được thành lập, nhưng ít nhất một ủy viên trong ủy ban nhỏ này – Bruce Cumings, nhà sử học nổi tiếng chuyên về Triều Tiên – mãi đến sáu tháng sau khi thỏa thuận được ký kết với Bắc Kinh mới biết về sự tồn tại của Viện Khổng Tử. (Theo Foss, ủy ban điều hành của trung tâm này rất ít hội họp, thậm chí chưa đến một lần mỗi năm.) Ngoài ra, chỉ có một lần tham khảo ý kiến khác; đó là một cuộc họp vào lúc rất trễ trong ngày với một “nhóm công tác nhỏ gồm các giáo sư, các trưởng khoa và các nhà quản lý”. Tháng 9/20009, đề án mở Viện Khổng Tử được nộp cho Hán Biện. Ngày 29/9/2009, thỏa thuận thành lập Viện Khổng Tử được một hiệu phó của Đại học Chicago và giám đốc điều hành của tổng bộ Hán Biện ký. Ngày 1/6/2010, viện chính thức mở cửa trong buổi lễ linh đình có mặt hiệu trưởng Đại học Chicago và các quan chức Hán Biện.

* * *

Trong những nhượng bộ của Hán Biện đối với Chicago có việc loại bỏ khỏi thỏa thuận Viện Khổng Tử điều khoản giữ bí mật. Hình như chẳng cần điều khoản như vậy, vì Viện Khổng Tử vẫn còn bí ẩn về những khía cạnh quan trọng đối với chủ tịch hội đồng giáo sư giám sát hoạt động của viện. Hội đồng này do Martha Roth, trưởng khoa nhân văn, đứng đầu và gồm có hai giáo sư Chicago khác và hai ủy viên do Đại học Nhân Dân bổ nhiệm. Trong một cuộc phỏng vấn, bà Roth nói bà không biết về các điều khoản của hiến chương và quy chế về các Viện Khổng Tử: “Tôi không nhớ là có xem nó.” Bà cũng không nhớ các điều khoản của thỏa thuận mà trường đại học này đã ký với Hán Biện. Bà nghĩ (sai) rằng Hán Biện “chịu sự quản lý và hỗ trợ của Bộ Giáo dục” – một cảm nhận mà Hán Biện chính thức truyền đạt trong các văn bản bằng tiếng Anh với từ “trực thuộc” (affiliation) Bộ Giáo dục, thay vì hội đồng các quan chức chính phủ mà thực ra Hán Biện phải báo cáo lên. Khi được hỏi về yêu cầu bắt buộc nộp đề án nghiên cứu cho Bắc Kinh để xét duyệt và cấp kinh phí, bà Roth cảm thấy thủ tục này không có gì đáng phản đối, so sánh nó với tập quán nộp đề án lên Bộ Giáo dục Mỹ. Bà cũng chẳng quan ngại về những vấn đề đã phát sinh với các Viện Khổng Tử ở các trường đại học khác, tỏ vẻ hài lòng là Đại học Chicago tuân theo những nguyên tắc của chính mình về tự do học thuật. Khi được yêu cầu bình luận về các điều khoản quy định về Viện Khổng Tử trong hiến chương và quy chế Hán Biện và thỏa thuận [thành lập viện], bà Roth trả lời rằng những câu hỏi như vậy “tốt nhất là chuyển sang phòng pháp lý” của trường.

Tuy nhiên bà Roth khẳng định rằng Bắc Kinh không cung cấp giáo viên Hán ngữ cho Chicago, và không trả lương và vé máy bay cho họ, như quy định trong các văn bản chính thức này. Bà nói người ta cứ nghĩ Hán Biện đã làm vậy cách đây vài năm, nhưng “chuyện đó chẳng hề diễn ra. Bà nói: “Điều này thật chẳng may vì chúng tôi cần nhiều lớp dạy Hán ngữ hơn.” Có lẽ có sai nhầm hiển nhiên này là do các giáo viên do Hán Biện cung cấp dạy các lớp trong chương trình cử nhân chính khóa, chứ không phải trong chương trình giảng dạy của chính Viện Khổng Tử. Từ năm 2006 Hán Biện đã cung cấp ít nhất hai giảng viên Hán ngữ cho Đại học Chicago, ngay cả trước khi có thỏa thuận chính thức; từ khi thỏa thuận được ký, việc cung cấp tiếp tục theo các điều khoản của thỏa thuận. Như đã nói ở trên, đề án của chính Chicago về mở Viện Khổng Tử có một phần quan trọng về giảng dạy. Tuy nhiên vẫn còn nhiều ngộ nhận về cách chọn lựa giáo viên.

Nhắc đến một nhượng bộ khác đối với Chicago, cả Dali Yang và Ted Foss đều nói rằng trường đại học này kiểm soát phần lớn việc tuyển dụng giáo viên ngôn ngữ từ Trung Quốc. Theo lời của ông Yang, “Trường tham gia trọn vẹn vào quá trình tuyển dụng giáo viên Trung Quốc, chứ không chỉ có quyền từ chối.” Ông Foss nói, “Chúng tôi kiểm soát việc ai được cử sang.” Tuy nhiên, giám đốc chương trình Hán ngữ tại đại học này, người tuyển dụng các giáo viên Hán ngữ, lại có ý kiến khác về quy trình này. Bà nói rằng theo bà biết, tất cả các giáo viên Hán ngữ có thể dự tuyển cho công việc này, nhưng họ phải có bằng cao học về Hán ngữ và đã dạy sinh viên nước ngoài tại trường đại học của họ. “Sau đó họ cần phải làm một số bài kiểm tra, ví dụ như kiểm tra tiếng Anh và tâm lý. Nếu được Hán Biện chọn, họ cần phải dự một một buổi tập huấn. Họ nói họ học những vấn đề như nghệ thuật dân gian.” Khi được hỏi về vai trò của Đại học Chicago trong việc chọn giáo viên, vị giám đốc, lúc đó đang ở Bắc Kinh, đáp: “Chúng tôi không chọn. Họ giới thiệu, và chúng tôi chấp nhận.” Sáu tuần sau, khi được liên hệ trở lại ở Chicago, bà nói trường đại học này có thể từ chối người được Hán Biện giới thiệu khi duyệt lý lịch của ứng viên, và Hán Biện khi đó sẽ giới thiệu một giáo viên khác, nhưng điều đó không xảy ra. Dù gì đi nữa, vì Hán Biện hoạt động theo luật pháp Trung Quốc – chẳng hạn các luật quy định Pháp Luân Công là tổ chức tội phạm – Đại học Chicago, dùng có vô tình đến đâu đi nữa, có nguy cơ phạm phải lối tuyển dụng mang tính phân biệt đối xử đã khiến Đại học McMaster bị kiện ra tòa nhân quyền. Đại học Chicago có thể càng có nguy cơ cao hơn vì trường trả cho các giáo viên do Hán Biện một khoản phụ cấp bổ sung cho mức lương Trung Quốc của họ.

Sai sót này dường như càng nghiêm trọng hơn vì không chỉ những người trực tiếp giám sát Viện Khổng Tử mà cả các cấp quản lý cao hơn cũng lãng quên về viện này. Ngày 4/6/2010, ba ngày sau khi Viện Khổng Tử của Đại học Chicago được khai trương trọng thể, hiệu trưởng và hiệu phó có cuộc họp với các đại diện của một tổ chức tự lập của các giáo sư gọi là CORES, và thảo luận về Viện Khổng Tử. CORES đã tổ chức lấy được chữ ký của 174 giáo sư phản đối điều mà họ gọi là “việc công ty hóa” trường đại học này, mà ví dụ điển hình là Viện Khổng Tử và Viện Milton Friedman. Biên bản của cuộc họp này được phát cho tất cả mọi người tham dự, mà không chỉnh sửa gì về bất cứ nội dung nào. Biên bản này cho biết hai học giả uy tín về Đông Á, Bruce Cumings và Norma Field, đã phản đối đặc trưng chính trị của Viện Khổng Tử, vai trò của viện trong việc quyết định chủ đề nào về Trung Quốc được dạy ở Đại học Chicago, và cách “họ và các giáo sư khác chuyên về Đông Á đã bị loại ra khỏi các cuộc thảo luận và quá trình ra quyết định.” Đâu phải chỉ có mình họ: biên bản cũng ghi nhận rằng hiệu trưởng Robert Zimmer và hiệu phó Thomas Rosenbaum “thừa nhận họ thiếu thông tin về vấn đề này và tỏ ra bối rối và hối tiếc vì chuyện này đã xảy ra.”

Vậy thì điều gì khiến hiệu trưởng Zimmer không cắt đứt quan hệ của Đại học Chicago với Viện Khổng Tử, hay khiến Columbia và Trường Kinh tế London không hành xử tương tự? Những trường tiếng tăm đã thành lậpViện Khổng Tử nên đi đầu trong việc chia tay với Viện Khổng Tử, nhấn mạnh rằng các vấn đề liên quan lớn hơn các lợi ích cụ thể của chính họ: khi mở Viện Khổng Tử, họ can dự vào các nỗ lực chính trị và tuyên truyền của một chính phủ nước ngoài theo cách mâu thuẫn với các giá trị tự do tìm tòi học hỏi và an sinh của con người mà họ đã cam kết tuân theo. Không chỉ đơn thuần là các tổ chức cục bộ, mỗi một trường đại học cũng là công cuộc toàn cầu: lý tưởng phổ quát về tự do tìm tòi học hỏi vì lợi ích của toàn nhân loại là nền tảng xây dựng các trường đại học, và lý tưởng đó đúng ra phải khiến họ ở một tầm cao hơn mà Viện Khổng Tử không thể sánh ngang được. Đã đến lúc Đại học Chicago hành xử cho xứng đáng với phương châm của mình, Crescat scientia; vita excolatur. Hãy để tri thức ngày càng sinh sôi, để nhân sinh phồn thịnh.

HẾT

Nguồn: Marshall Sahlins, China U., The Nation, 18/11/2013.

Bản tiếng Việt © 2013 Phạm Vũ Lửa Hạ

(Bản dịch tiếng Việt, ký tên Khương An, đăng 3 kỳ trên Thời Mới Canada, ngày 6/11, 13/11 và 20/11/2013.)

Facebook Comments
Advertisements

4 comments

Trả lời

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.